• laptop cũ, thiết kế web, đào tạo seo
  • Video Clip

    Giáo sư Nguyễn Đức Vi tư vấn vô sinh hiếm muộn(phần 3)

     
    Hỗ trợ trực tuyến
    043 557 9229

    Tư vấn 1 Tư vấn trực tuyến

    Tư vấn 2 Tư vấn trực tuyến

    Thống kê truy cập
    Trực tuyến : 8
    Lượt truy cập : 995478
     

    Sản phẩm Vương Não Khang

     Thực Phẩm Chức Năng Vương Não Khang

    Tự kỷ là những rối loạn trong sự phát triển của hệ thần kinh làm giảm khả năng giao tiếp xã hội và học hỏi hành vi. Bệnh thường bắt đầu biểu hiện trước 3 tuổi. Mặc dù vẫn phát triển bình thường về ngoại hình, trẻ em mắc bệnh tự kỷ lại có suy nghĩ, cảm xúc, cách sử dụng ngôn ngữ cũng như thói quen khác hắn so với trẻ bình thường.

    Các rối loạn trong bệnh tự kỷ bắt nguồn từ những bất thường về cấu trúc và chức năng não bộ. Các rối loạn đó ảnh hưởng đến sự phát triển mất cân bằng của hai vùng não trái và não phải, ảnh hưởng tới vùng tương tác xã hội và vùng kỹ năng giao tiếp của não bộ. Triệu chứng của tự kỷ xuất hiện tương đối sớm, trong vòng từ 24 - 36 tháng đầu đời và khá điển hình. Trẻ mắc bệnh chậm phát triển khả năng tương tác xã hội, sử dụng ngôn ngữ; rối loạn về hành vi và cảm giác. Các biểu hiện thường gặp là trẻ chậm biết nói, không hiểu ý nghĩa của các từ thông thường, thích một mình nên kém hòa nhập, rất khó thay đổi thói quen, có những hành vi lặp lại, không thể chơi các trò chơi cần đến trí tưởng tượng, không ý thức với các cảm giác nóng lạnh... Nghiêm trọng hơn, trẻ tự kỷ thường gặp những vấn đề về tâm lý. Một số trẻ ủ rũ, số khác rất hung dữ, phần lớn lo lắng, sợ sệt do không nhận thức được thế giới xung quanh. Ngoài những biểu hiện về chức năng trên hệ thần kinh, trẻ mắc tự kỷ còn gặp vấn đề về rối loạn chuyển hóa và hấp thu chất dinh dưỡng. Bằng các phương pháp kiểm tra nồng độ trong máu người ta đã chỉ ra những chất dinh dưỡng bị thiếu hụt trong các cơ thể mang bệnh tự kỷ. Đặc biệt trong số đó phải kể đến các vitamin tan trong dầu, Taurine, Acid folic, Insulin... Không những vậy, hầu hết các trẻ bị tự kỷ còn có sự bất thường trong hoạt động của ty thể - bào quan làm nhiệm vụ cung cấp năng lượng cho tế bào. Chính, sự bất thường này với một mặt làm trầm trọng thêm các biểu hiện tại hệ thần kinh trung ương, một mặt ảnh hưởng đến các quá trình chuyển hóa thông thường tại các cơ quan khác.

    Tự kỷ là chứng bệnh của thời đại mới và gia tăng đột ngột trong những năm gần đây. Theo thống kê từ những năm 1990 tỷ lệ trẻ mắc bệnh tự kỷ là 6/1000. Cho tới năm 2007 con số này đã tăng lên thành 1/150. Trong đó, số lượng bé trai mắc bệnh thường cao gấp 3 - 4 lần bé gái. Cho tới nay các nhà khoa học vẫn chưa khẳng định được nguyên nhân gây tự kỷ. Một vài giả thuyết thì cho rằng tự kỷ có nguyên nhân do di truyền hoặc bất thường trong cấu trúc gen. Điều này phù hợp với thực tế là tỷ lệ trẻ mắc tự kỷ trong những gia đình có tiền sử thường cao hơn. Bên canh đó, một số yếu tố như bất thường trong quá tình mang thai và chu sinh, môi trường sống ô nhiễm, hóa chất độc hại, trường điện từ. Hay một số bệnh nhiễm vi khuẩn, vi rút nhất định có thể làm tăng nguy cơ gây bệnh.

    Tuy chưa rõ nguyên nhân gây bệnh nhưng tự kỷ là bệnh có thể điều tri. Mục tiêu điều trị là giúp cho bệnh nhân có cuộc sống bình thường nhất có thể. Rất nhiều bệnh nhân tự kỷ sau khi được điều trị đã có kết quả tốt, có cuộc sống riêng, thậm chí có thể lấy bằng đại học hay lập gia đình. Hiện nay vẫn chưa có một phương pháp cố định nào để điều trị tự kỷ. Phụ thuộc vào đặc điểm từng bệnh nhân bác sĩ sẽ áp đụng các biện pháp điều trị khác nhau. Các biện pháp điều trị bao gồm kỹ năng điểu chỉnh hành vi, phát triển kỹ năng  giao tiếp và ngôn ngữ, xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý và sử dụng sản phẩm hỗ trợ. Trong đó, dùng các sản phẩm hỗ trợ là biện pháp được sử dụng để điều trị các trạng thái tâm lý bất thường kèm theo bệnh đồng thời tăng cường khả năng học hỏi. Một số sản phẩm có tác dụng cải thiện tình trạng kích động hay ủ rũ, trong khi một số khác làm tăng cường khả năng hoạt động thần kinh của người bệnh.

    -         Đinh lăng (Tieghemopanax fruticosus Vig.) họ Nhân sâm — Araliaceae, bộ phận dùng là rễ củ. Đinh lăng có vị ngọt, tính bình. Theo nghiên cứu của Viện Y học Quân sự Việt Nam, Đinh lăng có tác dụng tăng biên độ sóng não, tăng tiếp nhận kích thích ánh sáng, tăng hoạt động phản xạ có điều kiện bao gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt. Người ta đã tiến hành thử tác dụng chống trầm uất theo nghiệm pháp "trạng thái thất vọng" và thấy Đinh lăng có tác dụng giảm "trạng thái thất vọng", chống trầm uất. Dưới tác dụng của cao Đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn, làm giảm các triệu chứng trầm cảm do ức chế MAO. Đinh lăng cũng làm cho trẻ dễ ngủ hơn. Ngoài ra Đinh lăng cũng có tác dụng tăng cường miễn dịch (Trích nguồn: Đỗ Huy Bích, Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam, tập I, NXB Khoa học và kỹ thuật, frang 793).

    -         Thăng ma (Cimicifuga foetida L.) họ Mao Lương — Ranunculaceae, bộ phận dùng là thân và rễ. Thăng ma có vị ngọt cay, hơi đắng, tính bình. Thăng ma có tác dụng tăng cường tuần hoàn máu não, giảm stress, giảm đau. Thăng ma cũng có tác dụng tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch. (Trích nguồn: Đỗ Huy Bích, Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam, tập II, NXB Khoa học và kỹ thuật, trang 844)

    -         Ginkgo biloba (Ginkgo biloba L.) họ Bạch quả — Ginkgoaceae, bộ phận dùng là lá. Bạch quả là một dược liệu được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới. Bạch quả có tác dụng làm tăng tuần hoàn máu não, qua đó tăng hoạt động trí tuệ, tăng cường trí nhớ. Ngoài ra, Bạch quả còn bảo vệ bộ não bằng cách giảm nhu cầu oxi của não, tăng lượng glucose vận chuyển đến não và ngăn chặn các gốc tự do phá hủy tế bào thần kinh. Bạch quả được dùng phổ biến để điều trị suy giảm trí nhớ, rối loạn hay suy nhược thần kinh. Bạch quả cũng có hiệu quả trong việc cải thiện khả năng giao tiếp của người bệnh tự kỷ. (Trích nguồn: Niederhofer H., First preliminary results of an observation of Ginkgo Biloba treating patients with autistic disorder, Phytother Res, 2009 Mar 9th; Đỗ Huy Bích, Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam, tập I, NXB Khoa học và kỹ thuật, trang 154).

    -         Taurine: Taurine là một acid amin cần thiết cho sự phát triển của trẻ nhỏ trong những năm đầu đời. Taurine, có tác dụng làm tăng sinh các chất dẫn truyền thần kinh trung ương, góp phần điều hòa hoạt động não bộ, tăng lưu lượng tuần hoàn máu não, tăng tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động và cảm giác; tham gia vào quá trình phát triển của hệ thần kinh trung ương (CNS) và võng mạc, điều chế canxi, ổn định màng, sinh sản, và miễn dịch. Đồng thời, Taurine tham gia vào thành phần của muối mật và các enzyme chuyển hóa quan trọng trong cơ thể.Nếu thiếu Taurine, trẻ không chuyển hóa được các chất dinh dưỡng trong cơ thể cũng như không hấp thu được chất béo. Theo nghiên cứu thống kê có tới 62% trẻ tự kỷ bị thiếu hụt Taurine. Ở trẻ tự kỷ xảy ra hiện tượng hạ natri máu khiến các tế bào hình sao sưng lên, sau đó giải phóng các axit amin là Taurine và Glutamin và nước của chúng để bù lại. Taurine — chất dẫn truyền thần kinh ức chế giữ hormone giãn niệu - là axit amin bị lãng phí và giảm nhiều nhất trong nước tiểu của trẻ tự kỷ. Do đó, Taurine là sự bổ sung cần thiết cho trẻ mắc bệnh tự kỷ (Trích nguồn: Parris M.Kidd, Autism, an extreme challenge to integrative medicine — Part li, Alternative Medicine review, Dec 2007. p. 10; http://plaza.ufl.edu/johnaris/PDFsGraduate/TaurineNeurochemRes04.pdf,  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21925797)

     

    -         Coenzyme Q10: là một chất nội sinh tương tự Vitamin có vai trò ngăn chặn tác hại của các gốc tự do sinh ra trong các phản ứng chuyển hóa bình thường của cơ thể. Nồng độ Coenzyme Q10 trong cơ thể trẻ tự kỷ thấp hơn bình thường do đó tế bào của nhiều cơ quan đặc biệt là não dễ bị phá hủy bởi gốc tự do. Một hậu quả nữa của bệnh tự kỷ là sự rối loạn hoạt động của ty thể, bào quan cung cấp toàn bộ năng lượng cho tế bào. Bổ sung Coenzyme Q10 là phương pháp hữu hiệu nhằm thiết lập lại hoạt động bình thường của ty thể, duy trì năng lượng hoạt động cho tế bào và ngăn chặn tác hại của gốc tự do. Các tác động tích cực thu được khi điều trị với Coenzyme Q10 trong các mô hình cho thấy bổ sung Coenzyme Q10 cũng có thể mang lại lợi ích cho con người. Bệnh nhân Parkinson đã tham gia một thử nghiệm, trong đó nhóm giả dược được so sánh với các nhóm bổ sung Coenzyme Q10 trong 6 tháng với liều hàng ngày lên tới 1200mg. Người ta thấy rằng Coenzyme Q10 làm chậm lại sự hư hại các chức năng, kết quả tốt nhất thu được với liều cao (Trích nguồn: Paul M. Coates, Encyclopedia of Dietary Supplement, trang 121.

    -         Vitamin B6: là thành phần cần thiết để tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh và các enzym thiết yếu cho não. Một số biểu hiện rối loạn tâm lý là hậu quả của việc thiếu Vitamin B6. Kết hợp với Mg, Vitamin B6 làm tăng khả năng học hỏi hành vi, kỹ năng giao tiếp bằng mắt và giảm sự kích động quá mức của hệ thần kinh. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng một nửa số bệnh nhân tự kỷ có tiến triển tốt khi được điều trị bằng Vitamin B6 và các vitamin nhóm B khác. (http://www.autism-society.org/site/PageServer?pagename=life_treat_yitaminamins).

    -         Acid Folic: là một chất dinh dưỡng vô cùng cần thiết cho não. Đây là nguyên liệu để tổng hợp glutathion có tác dụng chống ôxi hóa tại não. Acid folic còn có tác dụng tăng lượng dopamin, một chất đẫn truyền thần kinh thường bị thiếu hụt trong bệnh tự kỷ. Bổ sung acid folic là phương pháp có hiệu quả trong điều trị tự kỷ. Nhà nghiên cứu Pháp Jerome Lejeune đã cho các trẻ bị bệnh tự kỷ uống acid folic với liều 250mcg/pound cân nặng/ngày và đã thu được kết quả khả quan. Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi viện nghiên cứu tự kỷ Hoa Kỳ trên 131 trẻ bị bệnh đã có 48% trẻ được cha mẹ phản hồi là có tiến triển sau khi dùng acid folic. (Trích nguồn: Parris M.Kidd, Autism, an extreme challenge to integerative medicine – Part II, Alternative Medicine review, Dec 2007, trang 10.

    -         Natri succinate: cũng như acid succinic đóng vai trò quan trọng trong chu trình Krebs và thúc đẩy quá trình oxi hóa trong ty lạp. Ngoài ra, acid succinic còn có tác dụng kích thích hệ thần kinh, giúp phục hồi, làm lá chắn cho hệ miễn dịch, giúp tăng cường sự tỉnh táo, tập trung và phản xạ đối với môi trường xung quanh. Acid succinic cải thiện quá trình oxi hóa cơ chất của ty lạp thể và thúc đẩy sự kích hoạt sự hình thành ATP phụ thuộc vào succinate. Silimarin và acid succinic sử dụng cùng nhau tạo ra một tác dụng bảo vệ hiệp đồng trên ty lạp thể não vượt trội tác dụng bảo vệ của các chế phẩm riêng biệt và kích hoạt LPO bảo vệ. (Trích nguồn: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18856206)

     

    THỰC PHẨM CHỨC NĂNG VƯƠNG NÃO KHANG

     

    I. CÔNG DỤNG:

    - Hoạt huyết, tăng cường vi chất và năng lượng cho não.,

    - Giúp tăng cường khả năng học tập, làm việc, tính tập trung và phản xạ
    - Hỗ trợ tăng cường trí tuệ trẻ em

     

    II. THÀNH PHẦN CẤU TẠO:

    Mỗi gói chứa :

    1. Cao Đinh Lăng 200 mg kết hợp với các thành phần

    2. Cao Thăng Ma: 150 mg

    3. Cao Ginkgo biloba: 20 mg

    4. Natri succinate: 100 mg

    5. Taurine: 40 mg

    6. Coenzyme Q10: 2,5mg

    7. Vitamin B6: 0,3 mg

    8. Acid folic: 50 mcg

    Sản phẩm Thực phẩm chức năng Vương Não Khang với thành phần chính Cao Đinh Lăng kết hợp với Cao Thăng Ma, Cao Ginkgobiloba, Taurine,  Coenzym Q10, Vitamin B6, Acid folic, Natri succinatre (chi tiết công dụng từng thành phần có trong tờ Hướng dẫn sử dụng sản phẩm) giúp hoạt huyết, tăng cường vi chất và năng lượng cho não. Vương Não Khang giúp tăng cường trí não, tăng cường khả năng hoạt động của hệ thần kinh, tăng cường khả năng học tập, làm việc, tăng khả năng tập trung và phản xạ. Vương Não Khang hỗ trợ tăng cường trí tuệ cho trẻ em.

     

    III. ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG :

    - Trẻ chậm phát triển về trí tuệ và khả năng nhận thức

    - Trẻ chậm nói và chậm phát triển ngôn ngữ

    - Trẻ em chậm giao tiếp, tương tác xã hội (chơi với bạn bè)

    - Trẻ em tự kỷ

    Chi tiết và các nội dung liên quan đến sản phẩm :

    http://vuongnaokhang.vn/

    http://trechamphattrien.vn/

     

     IV. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG – BẢO QUẢN

    1. Hướng dẫn sử dụng

    •    Trẻ dưới 3 tuổi : Ngày uống 2 lần, mỗi lần ½ gói .

    •    Trẻ từ 3 đến 6 tuổi: Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 gói.

    •    Trẻ trên 6 tuổi : Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 gói.

    Hòa tan  lượng cốm trong gói với nửa ly nước .

    Nên uống trước bữa ăn 30 phút hoặc sau ăn 1 giờ.

    Nên dùng một đợt liên tục từ 3 – 6 tháng để có kết quả tốt nhất.

    2. Bảo quản

    Để nơi khô mát, tránh ánh sáng.

     

    V. CỐ VẤN SẢN PHẨM:

    Ths. BS Quách Thúy Minh

    Nguyên Trưởng khoa Tâm bệnh – Bệnh viện Nhi Trung ương


     
    sitemap namphuong.vn